Phân tích chênh lệch chi phí trong kế toán doanh nghiệp xây lắp

Thứ ba - 29/05/2018 21:20
Biến động chi phí là chênh lệch giữa chi phí thực tế và chi phí định mức. Chi phí phát sinh thực tế có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với định mức ban đầu, điều này tạo nên sự biến động chi phí so với định mức. Biến động có thể là bất lợi khi chi phí thực tế cao hơn chi phí định mức hoặc có lợi khi chi phí thực tế thấp hơn chi phí định mức.
Phân tích chênh lệch chi phí trong kế toán doanh nghiệp xây lắp
Mọi sự biến động của các khoản mục chi phí đầu vào được tác động bởi nhiều nhân tố ảnh hưởng khác nhau, trong đó có hai nhân tố chi phối phần lớn sự biến động đó là nhân tố lượng và nhân tố giá.
Căn cứ vào biến động chi phí kế toán quản trị có thể xác định được nguyên nhân gây lên biển động từ đó đưa ra được giải pháp khắc phục những tồn tại, những yếu tố tác động, phát sinh, kiểm soát được tốt nhất chi phí.
Chênh lệch giá gồm: Chênh lệch giá NVL, giá nhân công và chi phí sản xuất chung biến đổi. 
Chênh lệch số lượng gồm: Chênh lệch số lượng NVL, hiệu quả lao động và hiệu quả CPSX chung
Chênh lệch về giá = SL thực tế * (Giá thực tế - Giá tiêu chuẩn) 
Chệnh lệch về lượng = Giá tiêu chuẩn * (SL thực tế - SL tiêu chuẩn) 
* Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:  Biến động chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là so sánh giữa chi phí NVL thực tế phát sinh so với chi phí NVL dự toán. Từ đó xác định nguyên nhân biến động trên 2 mặt lượng và và giá đã tác động như thế nào.
Chênh lệch về giá = SL thực tế * (Giá thực tế - Giá định mức) 
Chệnh lệch về lượng = Giá tiêu chuẩn * (SL thực tế - SL định mức) 
Về lượng: Nếu chi phí NVL thực tế phát sinh lớn hơn chi phí NVL dự toán khi đó các nguyên nhân có thể xảy ra là hao hụt trong thi công, sử dụng nguyên vật liệu lãng phí, do thi công sai phạm, công tác lập  dự toán chưa sát với thực tế… Nếu chi phí NVL thực tế phát sinh nhỏ hơn chi phí NVL dự toán điều này nói lên công tác tổ chức thi công tốt, sử dụng nguyên vật liệu tiết kiệm, hiệu  quả. 
Về giá cả: Chi phí NVL thực tế phát sinh lớn hơn hay nhỏ hơn chi phí NVL dự toán đều nói lên ảnh hưởng của giá cả thị trường của nguyên vật liệu. Chênh lệch về giá trị thành tiền, đó là sự kết hợp giữa biến động  giá cả và lượng tạo nên. Công tác lập bảng phân tích chênh lệch sẽ được thực hiện thường xuyên nhằm kịp thời phát hiện những chênh lệch xấu, từ đó giúp kiểm soát ngăn ngừa việc sử dụng nguyên vật liệu không hiệu quả. 
 * Chi phí nhân công trực tiếp: Biến động chi phí NCTT là chênh lệch giữa chi phí NC thực tế phát sinh so với chi phí NC dự toán. Từ đó xác định nguyên nhân biến động trên 2 mặt lượng (biến động về năng suất lao động) và về giá nhân công đã tác động như thế nào.
Chênh lệch về giá = SL lao động thực tế * (đơn giá tiền lương thực tế - đơn giá tiền lương định mức) 
Chệnh lệch về lượng = ĐG tiền lương định mức * (Số giờ lao động thực – số giờ lao động định mức) 
 Về lượng: Nếu số giờ công thực tế cao hơn so với dự toán có thể do một số nguyên nhân như: công tác thi công không hiệu quả làm hao phí sức lao động, thiết kế sai nên phải làm lại, dự toán không sát với thực tế… Nếu số giờ công thực tế thấp hơn dự toán có thể do tổ chức thi công hiệu quả, đội ngũ nhân viên làm việc với năng xuất cao… 
Về giá: Chênh lệch tăng hay giảm của thực tế so với dự toán đều do hệ số lương theo quy định nhà nước hoặc của Ban điều hành dự án gây ra. Do ảnh hưởng của hai nhân tố lượng và giá sẽ gây ra chênh lệch về giá trị thành tiền của chi phí nhân công trực tiếp. 
* Chi phí sản xuất chung: Biến động chi phí SXC là chênh lệch giữa chi phí SXC thực tế phát sinh so với chi phí SXC dự toán. Từ đó xác định nguyên nhân biến động trên 2 mặt lượng (biến động về năng suất lao động) và về giá nhân công đã tác động như thế nào.
Chênh lệch về giá = Chi phí SXC thực tế - Chi phí SXC dự toán
Chệnh lệch về lượng = Tỷ lệ phân bổ theo dự toán (lượng phân bổ thực tế - lượng phân bổ dự toán)
Đối với chi phí sản xuất chung cũng lập bảng phân tích tương tự như những chi phí trên và cũng được lập thường xuyên để xử lý chênh lệch kịp thời. Ngoài việc tính toán các chênh lệch về giá trị, cần thiết tính ra số phần trăm chênh lệch để có thể thấy được mức độ ảnh hưởng của những chênh lệch đó. 

Tác giả bài viết: Trường Nguyễn

Nguồn tin: Tạp chí kế toán Việt Nam

Ghi chú: Việc đăng lại bài viết trên ở website hoặc các phương tiện truyền thông khác mà không ghi rõ nguồn Tạp chí kế toán Việt Nam - tapchiketoan.net là vi phạm bản quyền.

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Chúng tôi trên facebook
Thống kê
  • Đang truy cập2
  • Hôm nay202
  • Tháng hiện tại2,635
  • Tổng lượt truy cập31,064
bang cdkt
 
vai tro ktqt
dn cpsx
 
trees
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây